Phân tích bản Tuyên Ngôn Độc Lập của chủ tịch Hồ Chí Minh

Tuyên ngôn độc lập là đỉnh cao của VC chính luận nước nhà đạt đến trình độ mẫu mực. Bản tuyên ngôn là minh chứng cho lời nhận định của nhà văn Pháp Muydenstande: “HCM là nhà văn của nhân loại”.

T/p xuất sắc này của HCM được ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt bởi hoàn cảnh tạo nên cảm xúc cho người nghệ sĩ. Sau hàng nghìn năm sống dười chế độ quân chủ, hàng trăm năm sống dưới chế độ thực dân, năm năm sống dưới chế độ Phát Xít. Mùa thu năm 1945 nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng Sản đã làm cuộc tổng khởi khĩa tháng 8 thắng lợi, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Tuy nhiên chính quyền non trẻ của chúng ta đang bị âm mưu quay trở lại xâm lược lần 2 của thực dân Pháp. Quay trở lại xâm lược nước ta lần này, thực dân Pháp núp dưới hai chiêu bài lừa bịp công luận Quốc tế. Một là, chúng có công bảo hộ, khai hoá làm văn minh nước Việt Nam ngót một thế kỉ qua. Hai là, trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, thực dân Pháp đã đứng về quân Đồng Minh Liên Xô để chống lại Phát Xít Nhật trên chiến trường Đông Dương. Vì vậy thực dân Pháp có quyền quay trở lại thu hồi mảnh đất Việt Nam – một mảnh đất đã từng nằm trong tay Phát Xít.

Đứng trước tình hình ấy, ngày 13/8/1945 Nhật đầu hàng quân Đồng Minh Liên Xô vô ĐK cũng là ngày Đảng ta chớp thời cơ ngàn năm có 1 làm cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 thắng lợi. Ngày 19/8/1945, Chính quyền về tay nhân dân HN. 26/8/1945, ta giải phóng Huế Sài Gòn và đây cũng là ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản “Tuyên ngôn độc lập” tại số nhà 48 Hàng Ngang, Hà Nội, để khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Với t/p Tuyên ngôn độc lập, HCM 1 mặt tuyên bố quyền độc lập trước toàn thể nhân dân Việt Nam và công luận Quốc tế, đồng thời xé toang hai chiêu bài của thực dân Pháp trên trường Quốc tế. Bản tuyên ngôn đã được Bác đọc tại quảng trường Ba Đình lịch sử 2/9/1945 trước hơn 50 vạn đồng bào cả nước với một xúc cảm đặc biệt. Giọng của người là giọng của non sông, gấm vóc thấm vào từng con tim khối óc của mỗi con người Việt Nam. Tố Hữu trong bài thơ “Sáng tháng Năm” đã ghi lại xúc cảm khi nghe người đọc bản tuyên ngôn :

“Giọng của người đâu phải sấm trên cao,

Ấm từng tiếng thấm vào lòng mong ước,

Con nghe Bác tưởng nghe lời non nước,

Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau.”

“Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh có nhiều giá trị. Nếu đứng từ góc độ pháp lí thì đây là văn kiện pháp lí đầu tiên khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên trường Quốc tế. Đồng thời, nó còn được xem như 1 VB pháp luật quốc tế nhằm tuyên bố thoát li mọi sự lệ thuộc của VN với thực dân Pháp và xóa bỏ tất cả những hiệp ước Pháp đã kí về VN. Còn đứng từ góc độ ngoại giao thì đây là văn bản ngoại giao đầu tiên đặt nền móng quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Tuy nhiên nếu ta nhìn bản tuyên ngôn dưới chiều dài lịch sử của dân tộc VN thì đây là bản tuyên ngôn lần thứ 3 của dân tộc ta. Nhớ lại bản tuyên ngôn đầu tiên “Nam quốc sơn hà” với lời khẳng định của Lý Thường Kiệt :

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

Bản tuyên ngôn lần thứ hai của dân tộc ta là “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi với lời khẳng định:

“Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu :

Núi sông, bờ cõi đã chia,

Phong tục Bắc, Nam cũng khác.”

“Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh kế thừa tinh thần yêu nước và cảm hứng nhân văn của hai bản tuyên ngôn trên. Đồng thời mở ra một kỉ nguyên mới là kỉ nguyên độc lập dân tộc của một dân tộc thuộc địa như ở Việt Nam lần đầu tiên vùng dậy chặt đứt mọi xiềng xích của thực dân giành quyền giải phóng cho mình. Nói như Ng Đình Thi trong bài thơ “Đất nước“: Ads: Công ty vệ sinh môi trường Hà Thành nhận thong tac cong tai ha noihut be phot gia re, bảo hành 2 năm, cam kết không đục phá hệ thống.

                                    “Xiềng xích chúng bay không khóa được

Trời đầy chim và đất đầy hoa

Súng đạn chúng bay không bắn được

Lòng dân ta yêu nước thương nhà”

Đó là 1 dân tộc lầm than, 1 dân tộc mà cũng chính Ng Đình Thi viết

                                    “Nước VN từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng loà

Tuy nhiên, đứng từ góc độ VC nghệ thuật để thẩm thấu thì tuyên ngôn độc lập là đỉnh cao của văn chương chính luận nước nhà đạt đến trình độ mẫu mực cả về ND và NT.

Khi viết tuyên ngôn độc lập, Bác viết dưới 2 nguồn cảm hứng chính đo là cảm hưng yêu nước và cảm hứng nhân văn. Đàu tiên là cẳm hứng yêu nước. Cảm hứng yêu nước là tiếng nói của 1 nhà ái quốc vĩ đại đã hi sinh cả cuộc đời mình để đi tìm hình hài của Tổ quốc. Cảm hứng ấy như 1 sợi chỉ đỏ xuyên suốt 3 phần của bản tuyên ngôn.

Trong phần thứ nhất, Người đã khẳng định quyền độc lập dân tộc trên cơ sở những lĩ lẽ không thể chối cãi được. Bác dẫn lời trong tuyên ngôn của Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Người còn dẫn bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Ở đó có đoạn: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.” Đó là những lẽ phải, những chân lí mà thế giới đã thừa nhận. Chính từ 2 chân lí đó, Người đã chỉ ra được 1 chân lí thứ 3, buộc mọi người phải thừa nhận: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Viết bản tuyên ngôn, Bác đã sử dụng một ngôn ngữ lập luận vừa khôn khéo lại vừa kiên quyết. Nói là khôn khéo bởi Người đã lấy lời lẽ trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp để so sánh với việc làm đồi bại của chúng ở VN ngót 1 TK qua, để phanh phui bộ mặt thật của bọn thực dân, xé toang chiêu bài của chúng trên trường quốc tế. Trong tranh luận không gì thú vị bằng việc lấy lời lẽ của đối phương để khóa miệng của đối phương. Đó chính là nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông” trong tranh luận. Những kẻ chuyên mang quân đi xâm lược nhưng ngoài miệng luôn nói về quyền tự do, bác ái ấy đã bị Người SD chính cây gậy độc lập dân tộc đập lại vào lưng.

Ngoài ra, những lí lẽ Người sử dụng còn thể hiện 1 sự kiên quyết. Thông qua phần 1 của bản tuyên ngôn, người đã ngầm cảnh cáo nước Pháp rằng nếu chúng thực sự đem quân đi xâm lược nước ta thì lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái mà cha ông họ đã giương cao từ thế kỉ trước sẽ bị vấy bẩn, sẽ chà đạp lên truyền thống tốt đẹp mà cha ông họ đã dày công vun đắp. Hơn thế nữa, qua việc trích dẫn tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, Bác đã đặt ngang hàng bản tuyên ngôn độc lập của VN với bản tuyên ngôn của nước Pháp. Vẫn biết rằng tuyên ngôn là hệ quả tất yếu của Cách mạng, vậy nên ta có thể thấy Người đã đặt Cách mạng tháng 8 của ta ngang hàng với cuộc cách mạng tư sản Pháp trong khi Pháp đang tìm cách phủ nhận thành quả CMT8 của ta. Như vậy giờ đây, nếu Pháp phủ nhận thành quả CM của ta thì nghĩa là chúng cũng sẽ phủ nhận thành quả CM của chính mình, đi ngược lại bánh xe của lịch sử và sa vào chủ nghĩa xét lại mà cả TG đang lên án.

Ở đây nếu để ý, người yêu văn sẽ dễ dàng nhận thấy nếu trong cả 2 bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ đều có đề cập đến quyền con người thì TNĐL của HCM lại nói về quyền dân tộc. Đây cũng là 1 dụng ý NT của HCM bởi lẽ đối với 1 dân tộc thuộc địa như ở VN, khi quyền dân tộc chưa có được thì quyền con người ngàn năm không bao giờ có. ND VN đấu tranh để bảo vệ quyền dân tộc là họ đang đấu tranh để BV quyền con người. Vì vậy, TNĐL của HCM là bản tuyên ngôn nhân quyền mang sắc thái quốc tế

Như vậy, ngay từ mươi dòng đầu, bằng cách lập luận vô cùng chặt chẽ, lập luận sắc sảo, đanh thép, HCM xứng đáng là nhà văn của nhân loại như lời nhận định của Muydenstande.

Đến phần 2 của bản tuyên ngôn, Bác đã khẳng định quyền độc lập dân tộc trên cơ sở tình hình thực tiễn ở VN. Đây được xem như một bản cáo trạng đanh thép để kết tội tội ác của thực dân Pháp với 2 tôi trạng: xâm lược VN, gây bao đau khổ cho đồng bào VN và tội bán ta cho Phát xít Nhật. Đầu tiên đó là tội xâm lược VN, gây bao đau khổ cho đồng bào VN. Như ta đã biết, Pháp bắt đầu đặt chân xâm lược VN từ năm 1858 với sự kiện nổ sung ở bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng. Sau khi bình định được nước ta, chúng tiến hành khai thác thuộc địa để vơ vét tài nguyên thiên nhiên vật liệu của ta về làm giàu cho mẫu quốc. Tố cáo tội ác này, HCM đã tố cáo trên nhiều phương diện, lĩnh vực. Về chính trị, Pháp đã không cho ND ta 1 chút quyền tự do dân chủ nào. Chúng ràng buộc dư luận. Chúng thực hiện luật pháp dã man. Chúng đắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong biển máu. Chúng dùng chính sách “chia để trị”, chia nước ta ra làm 3 kì với 3 hình thức cai trị khác nhau. Về KT, chúng dùng chính sách cướp không ruộng đất của ND ta để lập đồn điền hầm mỏ. Chúng đặt ra nhiều sưu cao thuế nặng đánh vào nhiều giai tầng của ta, khiến họ không ngóc đầu lên được, nhất là dân cày và dân buôn. Chúng đánh những thứ thuế vô lí như thuế thân, thậm chí đánh ngay cả vào người đã chết. Chúng thiết lập hàng rào thuế quan vô cùng nghiêm ngặt để độc chiếm thị trường VN, không cho hàng TG vào VN hay hàng VN ra nước ngoài. Về VHXH, chúng mở nhà tù nhiều hơn trường học. Nếu có trường lớp thì chúng cũng đào tạo VH Pháp để ta bị phụ thuộc vào chúng, đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của chúng ở đây. Chung dùng chính sách nhồi sọ để dân ta ngu dân, chúng dễ bề cai trị Đồng thời chúng còn đầu độc dân ta bằng rược cồn, thuốc phiện để dân ta bị suy kiệt về nòi giống… Với tất cả những chính sách kể trên của thực dân Pháp kết hợp với chính sách của Phát xít Nhật sau này trong vòng 5 năm trời bắt dân ta nhổ lúa trồng đay trồng thầu dầu mà cuối năm 44 đầu năm 45, từ Quảng Trị ra Bắc Kì, hơn 2 triệu đồng bào ta đã chết đói. Với cách tố cáo này, HCM đã khẳng định thực dân Pháp không phải là kẻ bảo hộ ta như luận điệu chúng đã nói mà là kẻ xâm lược nước ta gây bao đau khổ cho đồng bào VN như Phan Bôi Châu đã từng viết:

                                    “Hỡi anh chị em Nam Việt

                                    Nông nỗi này ai biết cho chăng

                                    Đã non 8 chục năm trời

                                    Làm thân trâu ngựa cho loài chó dê…

                                    …Văn minh chi? khai hóa chi chi?”

Như vậy ở đây, chiêu bài đầu tiên của Pháp đã bị HCM xé toang trên trường quốc tế.

Không chỉ dừng lại ở đó, ngòi bút chính luận sắc sảo của HCM đã vạch trần tội ác thứ 2 của bọn thực dân là bán VN cho phát xít Nhật. Mùa thu năm 1940, Phát xít Nhật tràn qua biên giới Việt-Trung vào Việt Nam để mở rộng căn cứ đánh đồng minh. Bất thình lình, Pháp mở cửa nước ta để rước Nhật. Từ đó dân ta phải sống cuộc sống 1 cổ 2 tròng. Trong vòng 5 năm trời, từ mùa thu năm 40 đến mùa thu năm 45, thực dân Pháp không những đã không bảo hộ được ta mà còn 2 lần nhục nhã quì gối mở cửa nước ta rước Nhật, bán ta cho Nhật. Đã rất nhiều lần Việt Minh kêu gọi thực dân Pháp đứng về phía Việt Minh để chống Nhật. Bọn chúng chẳng những không nghe mà còn chém giết những người yêu nước thương nòi của ta, dìm đắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong biển máu. Như vậy thực dân Pháp không phải là đứng về quân đồng minh chống Nhật mà là kẻ nhục nhã đầu hàng Nhật. Với cách tố cáo này, Bác đã xé toang chiêu bài thứ hai của thực dân Pháp trên trường quốc tế

Bên cạnh đó, trong phần 2 tuyên ngôn độc lập, HCM đã khẳng định, vẽ lên tư thế ngời sáng, chính nghĩa của ND VN. Chỉ có ND VN mới đứng về quân đồng minh Liên Xô để chống Nhật ở chiến trường Châu Á – Thái Bình Dương. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương, ND VN đã chuẩn bị mọi lực lượng để kháng Nhật cứu quốc: XD lực lượng chính trị, XD lực lượng võ trang, XD căn cứ địa CM. Khi Nhật đầu hàng quân Liên Xô vô điều kiện, Đảng ta chớp cơ hội ngàn năm có 1 làm cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 thắng lợi, cướp chính quyền từ tay Phát xít. Trong tuyên ngôn, để chứng minh ta đã giành chính quyền từ tay Nhật, Bác đã phủ nhận mọi sự dính líu của ta với thực dân Pháp và phát xít Nhật. Ta không còn là thuộc địa của Pháp bởi Pháp đã bán ta 2 lần cho Nhật. ND VN có thể xóa bỏ mọi hiệp ước Pháp đã kí về VN. Ta không còn là thuộc địa của Nhật bởi ta đã cướp chinh quyền từ tay Nhật. Hơn nữa, ta đã có chính phủ lâm thời, đủ sức lãnh đạo đất nước VN cho đến ngày tổng tuyển cử trong cả nước 6/1/1946. Như vậy, VN đã thực sự được độc lập.

Trong phần 3 của bản tuyên ngôn độc lập, Người khẳng định quyền độc lập dân tộc trên trường quốc tế. Ở phần này, HCM khẳng định nếu công luận quốc tế thừa nhận nguyên tắc độc lập dân tộc của Mỹ, của Pháp và các nước thành viên khác tại 2 hội nghị Tê-hê-răng và hội nghị Cựu-kim-sơn, lẽ tất nhiên phải thừa nhận nguyên tắc độc lập dân tộc của VN. Cũng trong phần 3 này, Bác đã để tuyên ngôn kết thúc bằng lời thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Nếu cảm hứng yêu nước là tiếng nói của 1 nhà ái quốc vĩ đại, hi sinh cả cuộc đời để tìm hình hài của Tổ quốc thì cảm hứng nhân văn lại là tiếng nói của 1 nhà nhân đạo cộng sản đã hi sinh cả cuộc đời để đấu tranh vì quyền con người. Tuyên ngôn độc lập của HCM đã nêu cao tinh thần nhân văn nhân đạo của dân tộc VN. Mặc dù thực dân Pháp xâm lược VN, gây bao đau khổ cho đồng bào VN nhưng không phải vì thế mà nhân dân VN không đối xử khoan hồng, nhân đạo với người Pháp. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Việt Minh đã giúp nhiều người lính Pháp vượt qua biên thùy, trốn khỏi trại giam của Phát xít Nhật để bảo toàn tính mạng và tài sản cho họ, nêu cao tinh thần nhân đạo nhân văn. HCM muốn neu cao trước toàn TG tinh thần của 1 dân tộc thương người như thể thương thân. Đó là 1 dân tộc luôn

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

Lấy trí nhân để thay cường bạo”

Nói đến giá trị nhân văn là phải nói đến tình yêu thương con người. Chính vì vậy, ta có thể thấy giá trị nhân văn còn được thể hiện ở phần 2 bản tuyên ngôn khi Người tố cáo tội ác của thực dân Pháp. Khi tố cáo tội ác của kẻ thù, HCM không chỉ đứng trên tinh thần dân tộc mà còn đứng trên tinh thần của quyền con người. Do vậy, tuyên ngôn độc lập của HCM là bản tuyên ngôn nhân quyền mang sắc thái quốc tế

Không chỉ đặc sắc về ND, TNĐL còn là 1 t/p văn chương giàu tính NT. Điều này được thể hiện đầu tiên là ở kết cấu rõ ràng, lập luận đanh thép của bản tuyên ngôn. Về mặt kết cấu, là 1 t/p VC chính luận nên tuyên ngôn bao gồm 3 phần rất rõ ràng. Trong phần 1, HCM đưa ra những nguyên lí, những lẽ phải. Đến phần 2, HCM chứng minh thông qua tình hình thực tiễn của VN. Còn ở phần thứ 3, Người rút ra kết luận, khẳng định nước VN phải được độc lập. Như vậy ta có thể thấy TNĐL đáp ứng tiêu chí của 1 áng VC chính luận.

Khi viết bản tuyên ngôn, Người còn đã SD một ngôn ngữ lập luận đanh thép và sắc sảo. Ở phần 1, Người lập luận trên cơ sở lí lẽ không ai có thể chối cãi được. Người đã dẫn lời bản tuyên ngôn nước Pháp và nước Mỹ làm căn cứ, chỗ dựa cho cách lập luận. Vậy nên, cách lập luận của bản tuyên ngôn ở các phần đều thuyết phục được người đọc, người nghe

Bên cạnh đó, tuyên ngôn độc lập của HCM còn rất phong phú về liên kết. Kết thúc phần 1, Bác chuyển sang phần 2 bằng 2 chữ “thế mà” như để báo trước cho người yêu văn rằng tất cả những hành động đồi bại của thực dân Pháp ở VN ngót 1 TK qua trái hoàn toàn với những lời lẽ trong bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Bác đã dẫn ra ở phần 1. Để chuyển ý từ phần 2 sang phần 3, Người dùng cụm từ “bởi thế cho nên” như để cho thấy hai phần trên là nguyên nhân dẫn đến phần khẳng định, kết luận

Trong bản tuyên ngôn, Người đã SD 1 ngôn ngữ vô cùng chính xác đối với từng đối tượng và mục đích của bản tuyên ngôn. Về đối tượng của bản tuyên ngôn, đó không chỉ là đồng bào ta mà còn cả công luận quốc tế. Khi bản tuyên ngôn được đọc trước đồng bào ta, nhắc đến đồng bào ta, lời tuyên ngôn xiết bao xúc động: “Hỡi đồng bào cả nước…”. Còn khi nói trước công luận quốc tế, lời văn của tuyên ngôn hào hùng, sảng khoái, vô cùng đanh thép. Khi Người tố cáo tội ác của thực dân Pháp, lời văn của tuyên ngôn giần giật lửa căm hờn. Nhà thơ CLV đã nhận định rằng ở 14 câu văn, Bác đã sử dụng tới 13 chữ “quyền”, câu nào cũng được mở đầu bằng chữ chúng, nặng như búa tạ. Đằng sau chữ chúng là hàng loạt tội ác kẻ thù dồn đổ xuống đầu chữ “ta”.

Bản tuyên ngôn có mục đich là tuyên bố, phát ngôn trước dồng bào ta và công luận quốc tế để khẳng định nước VN hoàn toàn được độc lập. Để chứng minh ta được đọc lập, lời văn tuyên nôn phải chỉ ra ta là chính nghĩa còn kẻ thù là phi nghĩa. Điều này được thể hiện khi Người tố cáo hai tội ác của thực dân. Đồng thời, để chứng minh ta độc lập, tuyên ngôn phải phủ nhận mọi sự dính líu của ta với thực dân Pháp và Phát xít Nhật. Ta không còn là thuộc địa của Pháp bởi Pháp đã bán ta 2 lần cho Nhật. ND VN có thể xóa bỏ mọi hiệp ước Pháp đã kí về VN. Ta không còn là thuộc địa của Nhật bởi ta đã cướp chinh quyền từ tay Nhật. Hơn nữa, ta đã có chính phủ lâm thời, đủ sức lãnh đạo đất nước VN cho đến ngày tổng tuyển cử trong cả nước 6/1/1946. Như vậy, VN đã thực sự được độc lập.

TNĐL của HCM còn là một t/p giàu tính hình tượng. Chỉ bằng 9 chữ: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, HCM đã dựng lên trước mắt của người đọc cả 1 chặng đường lịch sử: Pháp bỏ chạy trong đêm Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương ngày 9/3/1945. Nhật đầu hàng quân Đồng Minh Liên Xô vô ĐK ngày 13/8/1945. Vua Bảo Đại nhượng lại ấn kiếm cho Việt Minh ngày 26/8/1945. Với 9 chữ này, HCM đã còn tái hiện lại những thất bại thê thảm của kẻ thù và ngược lại là những chiến thắng thần tốc như triều dâng, nước lũ của cuộc CMT8. Khi kẻ thù thất bại, cuộc CM càng thắng lợi. Ngoài ra, tính biểu tượng còn được thể hiện khi Người tố cáo tội ác xâm lược của thực dân Pháp với những câu văn như: “Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong biển máu”. Với cách viết này, bộ mặt quỷ dữ khát máu của kẻ thù đã bị HCM phóng lên đến cực điểm. Khi tố cáo tội ác bán VN cho Nhật, Bác viết “Trong vòng 5 năm trời, thực dân Pháp đã 2 lần nhục nhã quỳ gối, mở cửa nước ta rước Nhật”. Với động từ quì, động từ rước, Người đã làm tái hiện lên bộ mặt hèn nhát của kẻ thù.

<gậy ông đập lại lưng ông>

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc có t/p “Bản án chế độ thực dân Pháp”đây là bản luận tội tội ác của kẻ thù. Vì vậy lời văn của “Bản án chế độ thực dân Pháp” giần giật lửa căm hờn. 20 năm sau, Hồ Chí Minh viết “Tuyên ngôn độc lập”. Đây là một bản cáo chung nhằm kết thúc chế độ thực dân trên đất nước Việt Nam. Vì vậy, lời văn của bản Tuyên ngôn hào hùng, sảng khoái và vô cùng đanh thép. Với cảm hứng yêu nước, với vảm hứng nhân văn và tài năng nghệ thuật viên mãn, “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh xứng đáng là đỉnh cao của văn chương chính luận nước nhà và Hồ Chí Minh xứng đáng là nhà văn của nhân loại, nói như nhà văn Pháp Muydenstande.

loading...

No comments yet.

Please Post Your Comments & Reviews

Your email address will not be published. Required fields are marked *