Giáo dục đại học Việt Nam sẽ đi về đâu?

Những năm chiến tranh, việc học đại học còn rất nhiều khó khăn bởi những yếu tố khách quan mang lại. Tuy nhiên chính những năm đó lại mang lại nhiều thế hệ các nhà khoa học xuất sắc cho đất nước. Hầu hết những người được đào tạo bậc đại học đều có khả năng làm việc tốt và cảm thấy việc được học đại học là có sự thay đổi rõ ràng về chất. Gần hơn một chút đến những năm thập niên 90 của thế kỷ trước, việc chúng tôi đậu đại học là một vinh dự lớn không chỉ với gia đình, dòng tộc mà còn với hàng xóm láng giềng. Đơn giản bởi vì được học đại học đó là sự khác biệt lớn về mặt tri thức. Số lượng trường đại học không nhiều, tuyển sinh không ồ ạt đã thực sự tạo ra được những thế hệ sinh viên có chất lượng. Thực tế cho thấy thế hệ chúng tôi khi ra trường dù chỉ là giáo viên nhưng hầu hết các bạn đều trở thành giảng viên, giáo viên các trường chuyên. 

Với quan điểm giáo dục mở, xã hội hoá học tập, những năm đầu của thế kỷ 21, Bộ giáo dục với chủ trương tạo cơ hội học đại học cho tất cả mọi người đã ào ạt đồng ý cho mở thêm các trường đại học. Các trường đại học mọc lên như nấm. Thậm chí có trường còn từ trung cấp nhưng vài năm sau đã nghiễm nhiên trở thành trường đại học cho kịp với xu hướng. Cùng với đó là ngành học cũng tăng vọt, số lượng chỉ tiêu tuyển sinh cũng tăng chóng mặt. Tất cả những điều đó đều thực hiện mà không quan tâm đến 3 vấn đề là Chương trình học, cơ sở vật chất và chất lượng đội ngũ. 

Sự tăng trưởng qúa nhanh của trường đại học về mặt số lượng đi kèm theo đó là chương trình, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất phục vụ học tập không đáp ứng được nhu cầu học tập của sinh viên. Đào tạo tràn lan không có mục đích, không chú trọng hướng nghiệp đầu ra, không khảo sát thực trạng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Sinh viên thiếu kỹ năng thực tế, nặng lý thuyết, thiếu kỹ năng mềm, ngoại ngữ không đáp ứng được yều cầu giao tiếp tối thiểu.

Hậu quả là hiện nay theo thống kê có khoảng 170000 cử nhân thất nghiệp hoặc làm trái nghề. Nhiều sinh viên bị buộc phải đào tạo lại để đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp.

Có thể nói chính sách mở trường ĐH ồ ạt đã mang lại hệ luy đó là sự giảm sút rõ rệt về chất lượng, nhiều ngành nghề bị đóng cửa. Thậm chí nhiều trường ĐH đứng trước nguy cơ giải thể. Học sinh phổ thông có xu hướng đi học ở nước ngoài và làm chảy máu ngoại tệ.

Hiện nay hầu hết các trường ĐH của Việt Nam đều chưa có thứ hạng gì theo tiêu chí đánh giá của các tổ chức giáo dục uy tín trên thế giới.

Với đà này, nếu không có sự chú trọng phát triển chiều sâu, hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam có thể còn xuống cấp hơn nữa. Điều này dẫn đến nguy cơ đóng cửa thêm nhiều trường đại học. Các doanh nghiệp mất niềm tin vào việc đào tạo của các cơ sở giáo dục.

Vì vậy các cơ sở giáo dục ĐH cần thay đổi lại chương trình và mục đích đào tạo. Giảm cơ cấu tuyển sinh, chú trọng vào đội ngũ giảng viên. Đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp. Kết hợp mô hình ĐH và doanh nghiệp để đảm bảo đầu ra cho sinh viên.

Giải quyết được bài toán này, cơ sở giáo dục đại học cần có sự thay đổi toàn diện và bài bản mới có hy vọng nâng tầm giáo dục ĐH Việt Nam đáp ứng nhu cầu nhân lực cho doanh nghiệp.

loading...

No comments yet.

Please Post Your Comments & Reviews

Your email address will not be published. Required fields are marked *